Văn – GS Phạm Văn Song

Bồng Sơn thuở ấy.

Phạm Văn Song
Cao Học Sử Học
Tháng Mười năm 1958. Anh đến Bồng Sơn, một thị trấn nhỏ phía bắc tỉnh Bình Định. với tư cách một giáo sư đệ nhất cấp tại trường Tăng Bạt Hổ. Bình Định là nơi dựng nghiệp của Quang Trung đại đế, vị anh hùng dân tộc đã lẫy lừng phá tan 10 vạn quân Tàu xâm lược chỉ trong mấy ngày. Bình Định cũng là quê hương của bà Bùi Thị Xuân, vị nữ tướng lừng danh của triều đại Tây Sơn. Và Bình Định cũng là nơi nỗi tiếng về võ thuật, đến dộ cả đàn bà, con gái cũng biết múa côn, đi quyền (?).
Ai về Bình Định mà coi,
Con gái Bình Định múa roi đi quyền… (1)

Để đến được Bồng Sơn, anh đáp máy bay từ Huế vào Qui Nhơn. Sáng hôm sau, quá giang trên một chiếc GMC quân đội, anh phải ngược Bắc một đoạn đường dài 80km, đang còn hằn những vết tích của chiến tranh. Đường đầy cát bụi, lồi lõm, gập ghềnh, chằng chịt những những giao thông hào, được san lấp một cách sơ sài. Mãi xế chiều, anh mới đến được Bồng Sơn.
Bồng Sơn đây rồi. Nắng vàng nhè nhẹ. Gió hây hây. Dừa xanh mát dịu. Một cảm giác thoải mái, lâng lâng xuất hiện trong anh. Bao nhiêu mệt nhọc hầu như tan biến.

Trường nằm ven quốc lộ I, con đường huyết mạch nối bắc nam. Ngôi trường nho nhỏ, xinh xắn, gọn gàng. Nó không to lớn đồ sộ, không có bề dày lịch sử như những ngôi trường mà anh đã từng được thọ giáo trước đó.
Người đầu tiên anh gặp là vị Hiệu Trưởng nhỏ nhắn, trắng trẻo, phong thái nho nhã với cặp mắt loé sáng sau đôi kính cận thị :  thầy Đoàn Nhật Tấn, người xã Hoài Thanh cùng địa phương của Bồng Sơn và cũng là vị lãnh đạo đầu tiên của trường.
Điều kiện ăn ở của anh khá tốt. Giá sinh hoạt rất rẻ, so với đồng lương. Ăn uống, giặt giũ đã có “dịch vụ” lo. Nước sinh hoạt, nhà vệ sinh thoải mài.
Niên khoá đầu tiên, anh tạm trú tại một phòng học đang còn bỏ trống ở dãy cuối trường. Chung phòng với anh là thầy giám thị PBH, người Đà Nẵng, rất bay bướm. Khoảng một tháng sau, phòng lại có thêm thầy TĐD, giáo sư từ Diên Khánh tới cùng với cô em nhỏ. Thầy D là người chân chỉ, hiền lành và chịu khó, lại là một tay đầu bếp cừ khôi. Cờ tướng thì hết chê. Thầy đã trang bị cho mình một bộ đồ nghề nấu bếp: dao phay, nồi niêu, son chảo, bếp dầu… Nhờ đó mà anh được thầy chia phần trong những buổi ăn sáng bằng bánh mì – ốp la. Niên khoá sau, do sự phát triển của nhà trường, anh dọn ra ngoài.
Cư dân trong vùng đa số là những người hiền lành, chất phác. Họ rất nể trọng và quí mến anh cũng như đồng nghiệp của anh.
Riêng học sinh, vì hoàn cảnh chiến tranh, lại phải sống trong vùng do Việt Minh – Cọng Sản kiểm soát lâu ngày, nên các em đã không được học hành đến nơi đến chốn. Do đó, trường đã có không ít “chú” với độ tuối khá lớn so với lớp mà họ đang theo học.
Có câu: “ nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”; đã là học trò, thì dù lớn hay nhỏ, các em vẫn có những nghịch ngợm, những suy nghĩ tinh quái cố hữu; nên, khó mà  biết được trong đầu các em đang có những toan tính gì.
Tuy nhiên, bên ngoài, các em lại có vẻ hiền lành và lể độ như là những chú cừu non! Điều đó đã làm anh cảm thấy phấn chấn và tự tin khi tiếp xúc với phấn trắng bảng đen trước những đôi mắt tò mò, ranh mãnh của họ. Và, nó cũng đã mang lại một luồng sinh khí giúp anh thẳng tiến trên con đường nghề nghiệp.
Mùa hè 1963, anh trở lại Huế tiếp tục công việc “gõ đầu trẻ” của mình. Bồng Sơn, trường Tăng Bạt Hổ chỉ còn là kỷ niệm.

Bồng Sơn thuở ấy như có một sức hút vô hình nào đó đối với những người từ phương xa lại. Bồng Sơn “đi dễ khó về”. Đến nỗi, đến nơi đây, lắm kẻ quên… về !
Quên về, vì ở đây có; ngàn dừa xanh biếc, có lá xum xuê rợp bóng làng quê, có cây trĩu quả căng đầy nước ngọt? (2)
Quên về, vì họ muốn thưởng thức, và tận hưởng cái cảm giác “hỉ nộ, ái ố, dục lạc,” của các đường roi, đường quyền từ người đẹp?
Quên về, vì “nước Lại Giang trong và xanh ngắt. Hai bên bờ, xe nước quay phun những vòi nước trắng xóa theo những tiếng xe chạy đều đặn và dẻo dai.” …
Hay quên về vì “những thiếu nữ ở đây, nhờ được nuôi dưỡng bởi những trái  dừa ngọt mọng nước, lại thường được tắm gội  đùa nghịch trên sóng nước Lại giang, cho nên các cô vừa xinh, vừa đa tình đến độ quá tự tin :
Bao giờ rừng An Lão hết cây
Sông Lại Giang hết nước, thì em đây mới hết tình ! “(3)

Bồng Sơn thuở ấy, là sự xuất hiện ngôi trường Trung Học công lập đầu tiên, phơi mình ven quốc lộ I, trên nẽo đường xuôi ngược bắc-nam. Thật vậy:

Ngày đó, ai xuôi nam ngược bắc,
Mà không qua thị trấn Bồng Sơn,
Mà không thấy một ngôi trường nhỏ,
Xinh  xắn, đơn sơ nép cạnh đường.

Đó chính ngôi trường Tăng Bạt Hổ,
Là niềm kiêu hãnh của Bồng Sơn,
Đã bao thế hệ từng qua đó,
Kim bảng danh đề, rạng tổ tông…
Thế nhưng:

Ngày nay, trở lại ngõ Bồng Sơn,
Nổi bể chìm dâu, khiến chạnh lòng.
Cảnh cũ còn, trường xưa lỗi dấu,
Hỏi người viễn khách có buồn không ? (4)

Bồng Sơn thuở ấy cũng là nơi đã làm anh hiểu thế nào là cái mặc cảm “thua chúng kém bạn”. Cái mặc cảm quái ác đã gặm nhấm tâm tư anh, mà nhiều năm sau anh mới giải toả được nó bằng mảnh bằng Cử nhân Giáo Khoa Sử Địa ở trường Đại Học Văn Khoa Huế và mảnh bằng Cao Học Sử Học ở trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn.

Bồng Sơn thuở ấy, là nơi sản sinh truyền thống “tôn sư trọng đạo” sâu đậm, mà không ít môn sinh cũ đã dành cho anh. Nó nẩy nở và phát triển chẳng biết tự lúc nào, được biểu lộ qua ngôn ngữ, cử chỉ, cũng như qua hành dộng, bàng bạc từ quê nhà cho đến hải ngoại.

Đời là gạn đục khơi trong,
Thầy là tất cả tấm lòng chúng em.

Nay trò đời ân chìm, oán nổi,
Tình Thầy trò còn đỏ lòng son,
Trăm năm vật thể hao mòn,
Tình Tăng Bạt Hổ luôn tròn nghĩa nhân. (5)

Gia Đình Sông Lại vui khôn xiết
Luôn thấy : thầy cô rạng rỡ cười. (6)

“  Điều mà tôi mong ước nhất là được gặp lại một vị thầy mà năm 1959
đã làm cho chúng tôi vô cùng thán phục và chính nhờ vị thầy này mà chúng tôi sau này đã được một số thành công…”
“ Nhớ lại năm 1959, khi mà thầy đã bước vô trong lớp học, thì tất cả coi như là không một tiếng động , nếu mà con muỗi bay từ góc trường cũng nghe được….”(7)

…“Hôm nay tôi phải viết … Động lực chính ấy là Thầy tôi, vị Thầy đáng kính của chúng tôi, cách đây hơn 50 năm và mãi mãi …Thầy tôi, Phạm văn Song, chắc hẳn không có học trò nào, đã may mắn học được giờ của Thầy, lại có thể quên được, từ vóc dáng và phong cách của Thầy khi bước vào lớp học …cả lớp im lặng, một không khí im lặng không bình thường …rội vội vàng … giờ của Thầy, hình như trọn vẹn cả giờ … học sinh phải làm việc, thế mà chúng  tôi lại vui, lại trông đến giờ Thầy, để nhận điểm chạy đua làm bài… im lặng để nghe Thầy giảng bài …
Giờ này, Thầy tôi đã đi vào tuổi 80, Thầy vẫn còn tấm lòng tràn đầy… Những năm tháng ở Mỹ, chúng tôi được gần Thầy, nhờ “Mái ấm Lại Giang”. Thấy chúng tôi thiếu nhân lực, Thầy là người lính tiên phong, giúp chúng tôi hoàn thành những tiết mục “ca vũ nhạc kịch”. Thầy đã chuẩn bị đĩa nhạc, bài hát … Cô Ngọc-Cầm – nội tướng của Thầy – lo nghiên cứu và dàn dựng những tình tiết của mỗi liên khúc … Nếu không có tấm lòng của Thầy Cô, làm sao chúng tôi có được những buổi diễn văn nghệ đầy màu sắc ấy … (Tâm tình của Trương Thị Tạo, cựu học sinh T.B.H., cũng là đồng nghiệp của anh).(8)

Nên anh, cho dù từ ngày  “rời xa bục giảng trường đến nay, bò vàng đủng đỉnh, chưa từng trải, gác tía thênh thang, chẳng tỏ tường”; Nhưng anh vẫn còn chút may mắn, bởi vì:, …giữa chốn ân chìm oán nổi, vẫn còn nơi nghĩa đọng tình vương, của trò xưa tặng thầy năm cũ. Đó chính: cánh hoa thơm chặng cuối đường.(9)
Vâng! Là cánh hoa thơm chặng cuối đường. Nhưng, “cái bình phải như thế nào, mới có được những cánh hoa như thế” (10). Đó là đáp từ dễ thương sau hơn 50 năm của cậu học trò lớp đệ thất 3 niên khóa 1958-59 của anh.

Tuy nhiên, xin đừng nói công ơn khiến lòng anh phải day dứt, mà hãy nói tình nghĩa thôi, để trí anh đươc thảnh thơi. Rồi cùng nhau  ước chuyện tôn sư chẳng cạn, và mong điều trọng đạo đừng vơi.
Như thế là quá đủ để anh:

Cám ơn người học trò năm cũ,
Luôn tặng thầy cô những nụ cười! (11)

S. Phạm
Thanksgiving Day, 2014

Chú Thích:
(1)     Ca dao
(2)     (2) (4) (9) (11) Thơ: S. Phạm
(4)KhátĐắngLạiGiang-www.baobinhdinh.com.vn/Butkyphongsu/2006/5/26319
(5) Thơ Ngọc Hân, cựu học sinh T.B.H
(6) Thơ Tr.Khiêm, cựu học sinh T.B.H
(7) Phát biểu của Phạm Hữu Đa, cựu học sinh Tr. H Tăng Bạt Hổ, sau hơn 50 năm thầy trò xa cách, trong Đai Hội Lại Giang Xuân Giáp Ngọ 2014.
(8) GS.Trương Thị Tạo, “Tấm Lòng”
(10) P. Thanh Hùng.

Leave a Reply