Mổ xẻ văn Hóa Việt

       .

   Mổ Xẻ Văn Hóa Việt

                        GS Phạm xuân Khuyến

Nếu muốn có  nhận định  rõ ràng về văn hóa Việt, thiết tưởng  nên mổ xẻ văn hoá Việt . Mổ xẻ từ bên ngoài, để xem văn hóa Việt có gì  chung chung  với văn hóa nước ngoài không, sau  đó mổ xẻ ở bên trong, để xem văn hóa Việt có gì  đặc biệt không..  Đó là điều tôi  muốn làm. Xin độc giả theo rõi xem tôi mổ xẻ văn hóa Việt như thế nào

A-    Từ ngoài vào Văn Hóa Việt

Một số điểm tương đồng giữa văn hóa nước ngoài và văn hóa Việt

1-Dân tộc tính vẫn còn sau thời gian dài lệ thuộc

 

a/-  Các quốc gia  Brazil Nam Mỹ Châu ( 201 triệu dân) Mozambique  Phi Châu ( 24 triệu dân) và Angola Phi Châu (19 triệudân) lệ thuộc Bồ Đào Nha từ năm 1500.

Đến năm 1822, Brazil dộc lập   nhưng mất tiếng bản xứ, chỉ  nói tiếng Bồ Đào Nha .  Năm 1975, Mozambique dộc lập mất tiếng bản xứ mà nói tiếng Bồ  Đào Nha  hoàn toàn. Cũng năm 1975 Angola dộc lập   mất tiếng bản xứ, nói tiếng Bồ  Đào Nha  88%.

Dùmất tiếng bản xứ, Brazil, Mozambique và Angola cứ đòi chính phủ Portugal  trao trả  nền độc lập, vì các dân tộc này còn dân tộc tính mà chính phủ  thuộc địa không cướp đi được..

Còn quốc gia Việt lệ thuộc Tầu từ  năm 111 B.C. tới 939 B.C. ( hơn một ngàn năm)  nhưng vẫn giữ được  dân tộc tính và cả ngôn ngữ nữa.  Đó  là một đặc biệt vĩ đại .

 

Đến đây, chúng ta có thể kết luận rằng:  tiếng nói và  dân tộc tính là hai yếu tố cơ bản của Văn hóa  một  dân tộc.. Còn tiếng nói thì còn dân tộc. Và cũng thế, còn  dân tộc tính thì còn dân tộc.

 

b/-   Dân tộc tính có cái lợi mà cũng có cái hại:

 Quốc gia nào mà thuần nhất một sắc tộc thì  dân tộc tính  rất mạnh đi đến đoàn kết nhất trí. Quốc gia nào mà có quá nhiều sắc tộc  nghĩa là quá nhiều dân tộc tính khác nhau, thì   khó mà có sự đoàn kết  để làm cho quốc gia hùng mạnh. Quốc gia Việt có 54 sắc dân, nghĩa là  có 54  dân tộc tính khác nhau thì  phải chăng  đó là một  điều bất lợi cho sự đoàn kết một lòng  trong công cuộc xây dựng quốc gia hùng cường?

c/-    6-7 làng xã Việt  ngụ tại  vùng Bạch Long -Trường Bình  thuộc  Phòng Thành CảngQuảngTây vẫn nói tiếng Việt   Họ thuộc  sắc tộc Kinh (Việt ) t ừ bao thế kỷ    sống quây quần với nhau. Vì vậy, họ còn giữ được  dân tộc tính, nên họ được liệt vào danh sách một  trong 56  dân tộc thiểu số Trung Quốc  và  đượcgọi là  sắcdân Việt

 

   d/- Dân Việt  trên đất  Mỹ:  

 Thế hệ thứ nhất nói tiếng Việt đang chết dần, thế hệ thứ hai lười nói tiếng Việt, nói tiếng Mỹ nhiều hơn, còn thế hệ thứ ba hầu như nói tiếng Mỹ.  Có thể nói tiếng Việt sẽ  bị mất trong tương lai.

Còn dân tộc tính thì sao?

Nếu dân Việt  sống  gần gũi nhau, năng sinh hoạt với nhau, thì Dân tộc tính còn tồn tại. Nếu các gia đình người Việt  thích sống lẻ loi,  sống lẫn lộn với  các người chủng tộc khác, thì dân tộc tính Việt sẽ dần dần mất.

Cái nguy hiểm hiện tại là:    thực tế  người Việt ít tham dự các buổi cộng đồng,  ít đi chùa hay đi nhà thờ  để có dịp sinh hoạt với nhau, thích ở xé lẻ biệt lập. Cứ cái đà này kéo dài, thì phong tục tập quán của người Việt sẽ không còn nơi các gia đình người Việt nữa.   Tất nhiên  dân tộc tính sẽ mất.

 

   2- Lối viết chữ Việt, Cách bố cục bài Văn và bài Toán trong lớp, và hệ thống đo lường cân đo.

 

Vào năm1967, có Expo 67 tại Montreal Canada, tác giả bài này vào thăm gian hàng  Soviet Union. Khi đi thăm  khu văn hóa,   thấy có một số bài vở của các em học sinh  Liên Xô  từ lớp 1 cho đến lớp 10, tác giả bài này mở ra coi, thì thấy lối viết  chữ, lối bố cục bài tóan và bài văn  giống hệt  lối viết chữ, lối làm bài toán  và lối làm văn  ở Việt nam.  Tác giả  nghĩ rằng  lối viết chữ này và lối bố cục này  được đưa vào Việt Nam thời kỳ Pháp đô hộ Việt Nam.  Khi làm bài Toán thì  học sinh xử dụng hệ thống mét, kilogram, lít  .

Đến đây  chúng ta có thể kết luận lối viết chữ và lối  bố cục bài toán bài văn  cùng với hệ thống đo luờng của Âu Châu đã đi vào văn hóa Việt

 

  3-  Ẩm thực :   trà, rượu, món ăn, cơm, rau thơm

  – Rượu ngâm rắn

Người Việt  thường có thói quen uống rượu bổTrong số  rượu bổ,  thì rượu ngâm rắn là  loại rượu người đàn ông ưa chuộng nhất.  Dân Sàigòn thường xuống vùng Thành Triệu Tỉnh  Bến Tre mua rắnvề ngâm rượu đế.. Nhìn ra nước  ngoài, dânNhật  ( Okinawa) cũng là dân ưa  loạirượunày Các cửa tiệm phố  thường  thấy bày la liệt các bìnhrượu ngâm rắn khắp đó đây bên Okinawa.

 

Nậm  rượu 

 Rượu  thường được đổ vào loại bình nho nhỏ đặt ở mâm cơm đãi khách. Cái  bìnhnho nhỏ nàyđược mang tên cái Nậm  rượu.  Vào đêm giao thừa, ở miền Bắc,  các con cháu thường  mang khay đựng bánh chưng và nậm rượu đi tết ông bà, chú bác . Cái  loai nậm rượu   này  cũng được thấy trong buổi Triển Lãm Văn hóa Nhật  tại Plattsburgh New York vào năm  1967.

Như vậy rõ ràng cáiNậm  rượu  chung cho hai nền Văn hóa Nhật và Việt.

 

–      Cơm và bún

 

Cơm và bún là món ăn thường lệ của người Nhật,. cũng như của người Việt..

Món  soba  (bún) tương tợ  như món Hủ Tiếu. Món  kino soba tương tợ  như món bún khô  của người Việt.  Tô bún khô  phủ đầy thịt và rau của người Qui Nhơn Bình Định là món ăn lót lòng  chính  cho khách thập phương  đến Qui Nhơn vào những năm trước  năm 1965. Sau năm 1965, thì  món phở Bắc thay thế.

  Dụng cụ để ăn Cơm và bún ở gia đình hay ở các của tiệm ăn của Nhật hayViệt. là các  chén, bát, đĩa, thìa, đũa mâm, khay.   Mâm, khayđựngcơm và bún được  bày ra trên  bàn, phản (đi văng), chiếu

-Rau thơm: Mùi tàu, Lá lốt, Tía tô, Húng, Hẹ vv..

Các loại rau thơm này là lọai gia vị chung của  các  nền văn hóa Nhật, Trung, Việt .  Nếu  độc giả nào có dịp  du lịch Montreal Canada, viếngvườn Botanical Garden, khi tới khu Bonsai,  sẽ thấy  các loại rau thơm  nêu trên. Chắc các  độc giả rất bất bình khi  nhìn thấy các bảng nhỏ ghi  gốc tích các loại rau thơm này.  Theo các bảng nhỏ chỉ dẫn , thì các loại rau trên  đều là  rau của Nhật và Tàu chỉ có rau răm là của Việt

   4- Văn nghệ

–      Các  loại Trống to nhỏ,  và  các  loại cây đàn Hồ Nhị

 

Nói đến Văn nghệ truyền thống Việt  là nói đến múa với nhạc cụ trống và  các  nhạc  khí Hồ Nhị.  Chẳng hạn khiMúa Lân,  các diễn viên đánh các loại trống to nhỏ, còn  trong đám rước, thường  người ta chơi những bản nhạc không lời bằng  các nhạc khí  Hồ Nhị. Ở Okinawa  trước và sau khiLân ( shisha)  xuất hiện trước mặt Đức Phật ADI ĐÀ, thì các loại trống đánh hồi lùng, theo bài bản đàng hoàng  để  hỗ trợ  cử chỉ của Đức Phật ADI ĐÀ đang thuần hóa con Kỳ Lân, cho đến khi nó thần phục  quỳ lạy Đức Phật. Cũng thế ở Việt Nam khi múa Lân, trống cũng đánh hồi lùng theo bài bản   đúng kế hoạch .  Chỉ khác  một vài điểm: ở Okinawa Nhật, Con Kỳ Lân là một con vật to  tương tợ con Sư Tử, Đức Phật A Di Đà  vuốt ve nó, còn ở Việt Nam, con Kỳ Lân, thân dài đứ đượt  như con rồng , ông  Địa  vuốt ve nó.

 

  5-Sinh hoạt hàng ngày

    -Chợ búa

    Những sinh hoạt hàng ngày có nhiều điểm giống nhau, chẳng hạn ở Okinawa  Nhật  có một  cái chợ  ở trung tâm  thành phố . Chợ này bố trí giống như chợ Sàgòn, Chợ  BÌnh Tây, hay chợ Bà Chiểu. Người ta  ngồi hay đứng  và bán hàng  như thế nào, thì người Việt  ở Chợ Sàigòn, Chợ Bình Tây, chợ Bà Chiều ngồi đứng  và bán hàng như vậy

Mò cua, bắt ốc

Giới Bình dân Nhật  vào những buổi chiều khi nước biển rút xuống,  lội xuống  bờ biển  mò cua, bắt ốc  để  nấu bữa ăn chiều. Cũng thế  người Việt  ở hai bên bờ sông dọc theo con đường Vĩnh Long -Cần Thơ khi nước sông rút xuống, lội xuống sông mò cua, bắt ốc ,  để kiếm bữa ăn buổi chiều cho gia đình .

 6- Nông nghiệp 

 Trong lãnh vực nông nghiệp, bò và trâu là những công cụ sống động giúp  rất nhiều cho người Nhật cũng như cho người Viêt. Trâu thì giúp ích cho con người  nơi có những ruộng nước sâu. Bò thì giúp  nơi những cánh đồng  khô ẩm.  Ngoài ra trâu bò còn giúp người ta trong những lãnh vực khác, chẳng hạn, bò giùp kéo  cối ép mía   tại Okinawa  Nhật Bản.   Cũng thế ở Việt Nam.  Tại  quận Hoài Nhơn Bình Định vào mùa thu hoạch mía, con bò  bận công tác kéo  cối ép mía ngoài cánh đồng trồng mía.  Tác giả bài này đã nhìn thấy tận mắt  cảnh tượng con bò kéo cối ép mía ở  quận  Hoài Nhơn, Bình Định vào năm 1962.

7- Xã Hội Nhật và Xã Hội Việt vào những thập niên đầu thế kỳ 20

Vào khoảng năm 1923 theo tài liệu phim Oshin của Nhật thì nạn  Mẹ chồng con dâu, Môn đăng hộ đốiHôn Nhân do cha mẹ quyết định thì là những  tệ nạn không hiếm tại Nhật. Tôi thiết tưởng  những nạn đó  còn dữ dằn, kinh khủng ở Nhật  hơn là  ỡ Việt Nam vào thời kỳ Tự Lực Văn Đoàn . Tiểu thuyết Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng vào năm 1933 có  tả  Mẹ  Cậu Lộc  hành hạ cô Mai, người yêu của cậu Lộc.  Bà không muốn cô Mai lấy cậu Lộc vì  không môn đăng hộ đối, và  bà quyết định cưới con gái quan tuần phủ  về  làm vợ cho Cậu Lộc. Trường hợp Cô Mai không bị xử tệ cho bằng Cô Oshin ở Nhật  vào năm 1925. Mời quý vị độc giả coi cuốn phim Oshin . Cuốn phim này đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt . Cũng cuốn phim  Oshin  này đề cập đếnChủ  điền bên Nhật  bóc lột  tá điền  hơn  Chủ  điền   Việt bóc lột tá  điền Việt th ời   Hồ Biểu Chánh viết tiểu thuyết Con Nhà Nghèo)

Đến đây độc giả  nhận thấy rằng, các nạn Mẹ chồng con dâu, Môn đăng hộ đối,  Hôn Nhân do cha mẹ quyết định,Chủ  điền bóc lột tá  điền là  các tệ nan chung của nhiều quốc gia, chứ không riêng gì của Việt nam.   Thế mà  Tự Lực Văn Đoàn ( trong đó có Khái Hưng) đã quy những tệ nạn đó là do Nho Giáo, và kết tội  Nho Giáo . Sau này nhiều người,kể cả nhiều trí thức  theo gương Tự Lực Văn Đoàn cứ lên án Nho Giáo vì những tẹ nạn nêu trên.  Thật tội nghiệp cho Nho Giáo

Tóm lại,  văn hóa Việt có nhiểu điểm chung với văn hóa  Nhật  nói riêng và văn hóa nước ngoài nói chung

 

 

B- Từ  trong Văn Hóa Việt

 

Văn hóa Việt có 3 thành phần: Văn hóa Đông Sơn,Văn hóa Sa Huỳnh và Văn hóa Óc Eo.

I-  Từng văn hóa

1/-  Văn hóa Đông Sơn

Văn hóa Đông Sơn được biết đến khởi nguồn từ sự khám phá ra trống đồng do ông Nguyễn văn Lắm (nghề câu cá) ở ĐôngSơn, thành phố  Thanh  Hoá, tỉnh Thanh Hóa, tiếp đến do sự khai quật nhiều trống đồng ở  vùng Đông Sơn và các vùng tiếp cận do ông L Paijot (nghề khảo cổ), và sau cùng năm 1934  được đặt tên do nhà khảo cổ  Heine Golden.

Văn hóa Đông Sơn xuất hiện vào các triều đại Hùng Vương, An Dương V ương và Triệu Đà, kết thúc thế kỷ 2  sau công nguyên   thời Bắc thuộc

Ngôn ngữ Việt Mường, chữ viết : con nòng nọc

Cư Dân :    Mường, Thổ, Chứt   Kinh.  Một thời Cư dân này được gọi là dân  Âu Lạc ( Lạc Việt và Âu Việt).  Một thời Cư dân này được gọi là dân  Giao Chỉ  .

 Thời Bắc thuộc, Văn hóa Đông Sơn  có thêm môt số cư dân:

 

       Môn Khơ me    (Mảng, Kháng, Xinh Mun, Ơ Đu , Bru – Vân Kiều),      5

     Tày Thái          ( Thái, Lào, Lự, Bố Y, Giáy, Nùng, Sán Chay   Tày        8

Hmông – Dao       (Hmông, Dao, Pà Thẻn),                                          3

      Hoa                    (Hoa, Ngái, Sán Dìu                                                             3

      Tạng Miến         (La Hủ, Lô Lô, Hà Nhì, Phù Lá, Cống và Si La),          6

       Ca Đai               (Cờ Lao, La Chí, Pu Péo, La Ha)                               4

 

Lãnh thổ Văn hóa Đông Sơn : từ Ung Châu  – Khâm Châu một vùng nhỏ   của tỉnh Quảng Tây Trung  (bộ Thang Tuyền– bộ Ninh Hải triều đại Hùng Vương)   cho tớiĐèo Ngang

Văn hóa Đông Sơn nổi bật những đặc điểm sau đây:

a-  Kỹ thuật luyên Kim:   Đồng.

Đồng dùng  làm  ra  khí cụ chiến tranh: gươm giáo, dao găm, mũi tên . Người ta còn khai quật được nhữngmũi tên đồng thành Cổ Loa  

Đồng dùng  làm  ra  đồ trang sức.

Đồng dùng  làm  ra  lưỡi càyđể cày  bừa  ruộng nước  ngõ  hầu trồng lúa nước ( lúa mùa).

 

Nhờ  vào phát hiện được  các loại lưỡi càynhiều di vật có xương trâu, bò, các nhà khảo cổ nhận định rằng: Bò   sống trên đồng cạn  cònTrâu chuyên sống trong vùng đồng lầy, và lưỡi cày được phát hiện là dụng cụ  dành cho ruộng đồng lầy.  Như vậy thì  nông nghiệp   cư dân Đông Sơn thời Hùng Vương  vừa trên đất cạn vừa dưới đồng sâu.. Dưới đồng sâu  cư dân Đông Sơn sống bằng nghề   trồng  lúa nước với con trâu .   Họ chăn nuôi trâu, để lấy sức kéo và phân bónnhằm phục vụ cho nông nghiệp vậy.

b-     Nhà cửa = nhà sàn mái cong ( dựa vào mặt trống đồng  chạm khắc)

c-      Văn ngh : Múa Khèn  ( dựa vào mặt trống đồng  chạm khắc)

Cây khèn là nhạc cụ, gồm nhiều ống trúc nhỏ ghép lại, có thể thổi hơi ra, có thể hít hơi vào; khèn là đạo cụ múa… Tiếng khèn có thể một lúc phát ra đa âm, nhiều bè, vang xa trầm hùng như tiếng của gió ngàn, của suối reo, chim kêu, vượn hót, tiết tấu theo nhịp 4/4 hoặc 2/4

Vang vọng núi rừng tiếng khèn gọi bạn

 Điệu múa khèn nghiêng ngả tán ô đen

 

Múa Khèn  còn được múa  trong nững buổi văn nghệ của một số  sắc tộc , chẳng hạn  giới trẻ  sắc tộc Hmong.

 Chính trống đồng  là một  nhạc cụ  được xử dụng  trong buổi văn nghệ.

 

d-     Mộ thuyền :  cỗ  hòm ( ván  ) hình thuyền

   Mộ thuyền Châu Can cùng di vật-được tìm thấy ở Hà Tây năm 1977. Mộ thuyền là một cách chôn cất khá độc đáo của người Việt cổ thuộc văn hóa Đông Sơn.  ngôi mộ có quan tài hình thuyền độc mộc chở người Đông Sơn vào giấc vĩnh hằng từ 2.500 năm trước.

e-    Dồ gốm

 

2/- Văn hóa Sa Huỳnh

 Văn hóa SaHuỳnh xuất hiện từ năm 1909   lúc nhà khảo cổ Vinetkhai quật  được Mộ chum  ở Sa Huỳnh quận Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi.

Văn hóa SaHuỳnh đồng thời với Văn hóa Đông Sơn

Lãnh thổ Văn hóa SaHuỳnh : Từ Đèo Ngang tới  Bình Thuận Lâm Đồng

Ngôn ngữ Văn hóa Sa Huỳnh :   Malayo Polynesian – Mon Kmer

Cư dân

Các cư dân nguồn gốc ngôn ngữ Malayo-Polynesian di cư  từ Nam Đảo đến đất liền ở thế kỷ thứ 1 và thứ 2 trước Công nguyên. Các  nhà nhân chủng học biết được như vậy nhờ vào  quan sát đồ đất nung, đồ thủ công và đồ tùy táng chuyển đổi liên tục từ những địa điểm khảo cổ như hang động Niah ở  Sarawak, Đông  Malaysia..

Còn  các cư dân nguồn gốc ngôn ngữ Mon Kmer là những tộc Nam Á   luôn luôn sống ở vùng Tây Nguyên.  Họ thuộc những tộcSơ Đăng, Bâhnar, Êđê,  Jrai, Rakglay,  Cơ Tu, Brâu, , Srê, Rơng ao,  Churu, Cờ Ho, Mạ.Mnông, Jẻ Triêng, Stieng)

Văn hóa Sa Huỳnh có những đặc điểm như sau

a-  Kỹ nghệ      

–    Luyện Kim : đồng,  sắt

   –  Ngoài ra : mã não, thuỷ tinh

–      đồ gốm tinh luyện: chum

 

b-  Đất ruộng

Đất ruộng khô  ẩm:  thích hợp với loại lúa  mệnh danh là lúa chiêm.    Để trồng  được  loại lúa này,  cư dân biết  đào hệ thống  giếng  rồi dẫn thủy nhập điền. Những  giếng này còn có giá trị cho đến ngày nay.  Ngoài ra cư dân  còn biết nghề  tằm tơ trồng dâu nuôi tằm dệt tơ lụa may quần áo.

c- Giao thương :  

Các cư dân  gốc Nam Đảo thường giao thương với các nước  tại các đảo, với chính Ấn Độ qua đường biển. Biển cả là nơi hoạt động của họ.  Chính vì vậy, sau này hậu duệ của họ một thời  sống bằng  nghề hải tặc trên biển cả.

 

d-  Xã hội: mẫu hệ

Người Chàm hậu duệ cư dân gốc Malayo-Polynesian   vàhậu duệ  cư  dân gốc Nam Á  Tây Nguyên theo theo mẫu hệ.:   đàn bà thừa kế  nhưng đàn bà trong  gia đình, Còn đàn ông luôn luôn là Già làng, trưởng bản

e-    Ảnh hưởng của Ấn giáo và Phật giáo  vào Chữ viết,  Kiến trúc Đền Tháp và kỹ thuật điêu khắc Chàm

Vào thế kỷ 4, từ nước láng giềng Phù Nam ,  và  từ  các nước nam Đảo như  Malacca, Borneo, Java,  người Chàm  nhanh chóng hấp thu nền văn minh Ấn Độ và Java .Đây chính là giai đoạn họ bắt đầu có các văn bản mô tả trên đá bằng chữ Phạn và bằng chữ Chăm, và họ có bộ chữ cái hoàn chỉnh để ghi  lại tiếng nói của họ.

Từ văn minh Ấn Độ và Java  nghệthuật đền tháp Mỹ Sơnđiêu khắc đá  rưc  rỡ. Các hiện vật có hình linga  còn tồn tại cho thấy ảnh hưởng của Ấn giáo và Phật giáo .   Tại thánh địa Mỹ Sơn, ngôi đền thờ thần   Shiva,  Và  tại Nha TrangTháp  Bà   Po Nagar  thờ nữ thần đất Yan Po Nagar  trong Ấn Độ giáo được vua Bhadravarman xây dựng. Những đền tháp này nói lên  nghệ thuật  kiến trúc thật là điêu luyện.

     g  –  Chăm Pa Vương quốc của người Chăm

Chăm Pa chia thành bốn tiểu quốc : Amaravati, Vijaya, Kauthara và Panduranga. Mỗi Tiểu quốc đều có thể chế chính trị tự trị và có quyền ly khai khỏi liên bang để xây dựng quốc gia riêng độc lập. Vương quốc Chăm Pa đã trải qua nhiều triều đại với nhiều lần dời đô từ Bắc vào Nam và ngược lại.Hai tiểu quốc Amaravati, Vijaya  thuộc thị tộc Dừa , cònHai tiểu quốc  Kauthara và Pandurangahuộc thị tộc Cau.   Dừa ở phía Bắc từ Bình Định trở ra, còn Cau từ Bình Định trở vào gồm Tuy Hòa Nha Trang Phan Rang và Bình Thuận.

Vào năm 757, trung tâm chính trị của Chăm Pa đã chuyển từ Trà Kiệu xuống khu vực Panduranga  và Kauthara, với kinh đô Virapura  gần Phan Rang ngày nay

Vương quốc Chăm Pa là một dạng nhà nước liên bang  gồm  tộc Chăm  theo Đạo Bàlamon, Phật giáo và Hồi giáo chiếm đa số và một số tộc vùng núi Tây Nguyên như Ê đê, Giarai … duy trì tín ngưỡng dân gian Nam Đảo bản địa, nay hầu hết chuyển sang Ki Tô giáo từ giữa thế kỷ 19

 

3/-  Văn hóa Óc Eo:

Thành phố Óc Eo cổ được khai quật  do  Milleret   năm 1944 ở gò Óc Eo, huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang

Văn hóa Óc Eo niên đại của di chỉ Óc Eo là cuối thế kỷ 2 đến thế kỷ 5.

Cư dân : người Polynesian thuộc  nước Phù Nam,  rồi  thuộc Chân Lạp ( Khmer)

Ngôn ngữ :    Mã Lai-Đa Đảo  & Môn-Khmer

Chữ viết :   chữ Phạn (Sanskrit) có nguồn gốc từ bộ chữ cái của người Pallava, ở Ấn Độ.

Lãnh thổ Văn hóa Óc Eo : Thuỷ Chân Lạp  ( lãnh thổ miền Nam hiện nay)

Văn hóa Óc Eo  có những đặc điểm sau đây:

Kỹ nghệ

Luyện kim: đồng , sắt thiếc  tinh xảo,

Nấu thủy tinh,   chế tác ngọc, mã não, ,

Đồ gốm : gốm màu ,   Bếp lò,…  Gạch ngói, phù diêu

Đắp tượng   tượng kim loại, tượng đá, tượng gỗ  theo mẫuẤn Độ

chạm khắc tinh vi các t ượng  thần Shiva  Ấn  và Phật .

Kiến trúc: Xây dựng nhà cửa đền đài   theo lối  Kiến trúc  Ấn Độ

Nhà cửa:  làm bằng gỗ,  xây bằng gach.  Có loại  nhà sàn. Nhà sàn được cất trên cọc gỗ, mái lợp bằng lá thốt nốt hoặc ngói. Louis Malleret khi đã tiến hành khai quật ở Óc Eo đã nhận xét rằng: phần lớn kiến trúc ở đây được lợp mái bằng ngói, một kiểu khác hẳn ở Angkor.

 

Nghề  nghiệp đa dạng :

      dệt vải, thêu thùalàm muối, làm giấy bằng bông gòn…đóng tàu lớn nghề cá, Giỏi săn bắt & chăn nuôi (biết thuần dưỡng cả voi).

 

Nghề nông:

     trồng lúa nước (lúa sạ), Cư dân  của Văn hóa Óc Eo  có kinh nghiệm & tài nghệ trong việc làm thủy lợi để cải tạo đất đai.

 

Mộ chôn : xây hình vuông, hình chữ nhật

Tang lễ  có  4 cách: thủy táng, hỏa táng, điểu táng và chôn cất. Theo Tấn thư   thì tang lễ và hôn lễ của Phù Nam gần giống với  Chămpa va8n ho1a Sa Huỳnh

 

Giao thương:

  -các đảo, Ấn Độ , Trung Hoa 

đế quốc Ấn Độ giáo Majapahit (thủ đô ở trung tây Java từ  thế kỷ 4 – 15),   

-đế quốc Malacca :  Phật  giáo (thế kỳ 2) rồiHồi giáo trên bán đảo Mã Lai (t thế kỷ 10) 

  

Tín ngưỡng

     chủ yếu là đạo Bà-la-môn và đạo Phật.  

Theo các nhà nghiên cứu, Óc Eo đã từng là một cảng quan trọng của nhà nước Phù Nam. Vào khoảng giữa thế kỷ 6 , nước Phù Nam bước vào thời kỳ tàn tạ. Công tác thuỷ nông  không được coi trọng nữa,  lũ lụt do sông Mê Kong gây ra tai họa cho vùng, làng mạc trở nên tiêu điều, giặc  giã nổi lên. Cuối cùng  nước Phù nam bị Chân Lạp chinh phục .Vào thế kỷ 8, Chân Lạp nhập khu vực đồng bằng sông Cửu Long thuộc phần đất Phù Nam (mà Óc Eo nằm ở trong) vào miền nam Campuchia ngày nay để trở thành Thủy Chân Lạp , trong khi phần khác của nước Chân Lạp được gọi là  Lục Chân Lạptrải dài tới tỉnh Champasak  của Lào

 

II- Ba nền văn hóa  Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo  cùng chung mái nhà Văn Hóa Việt

Mái nhà  Văn hóa Việt  khởi đầu có một thành viên cư  trú. Thành viên đó  là  văn hóa Đông Sơn.  Thế rồi  Văn hóa Sa Huỳnh bắt đầu gia nhập từ năm 1306. Sau cùng Văn Hóa Óc Eo bắt đầu  gia nhập  từ năm1620 Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên.

1–Văn hóa Sa Huỳnh gia nhập Văn Hóa Việt 

Năm 1069, vua    Chế Củ   (Rudravarman ) của Chăm Pa đã nhượng ba châu Địa Lý  (Lệ Ninh, Quảng Bình ngày nay), Ma Linh (Bến Hải, Quảng Trị ngày nay) và Bố Chính (các huyện Quảng Trạch, Bố Trach, Tuyên Hòa tỉnh Quảng Bình ngày nay) cho vua Lý Thánh Tông của Đại Việt

Năm  1306 Vua Chề Mân  dâng   Châu Ô Châu Rí thuộc  Quảng Trị và Thừa Thiên cho  nước Dại Việt  đời vua  Trần Nhân Tôn và  Trần Anh Tôn  để cưới Huyền Trân Công Chúa về làm Hoàng Hậu

 Triều Hồ Quý Ly (13361407) lấy đất đến vùng Amaravati (vùng Quảng Nam), thủ phủ là Phật Thệ ( Quảng Nam),

Năm 1471 Vua Lê Thánh Tôn chiếm Thành Đồ Bàn, của vương Quốc Chàm, mở rộng biên cương Đại Việt tới  tỉnh Phú Yên. giới lãnh đạo Chiêm Thành có trình độ, một số bị bắt, một số bỏ trốn ra nước ngoài, qua Chân Lạp, Mã Lai tỵ nạn

Sau đó Chúa Nguyễn Hoàng và các Chúa Nguyễn kế tiêp mở rộng  ranh giới của mình tới Phan Rang, và sau cùng năm 1830, vua Minh Mạng xóa tên  nước Chiêm Thành

Mục tiêu của Chính quyền Đại Việt:

Thi hành chính sách dinh điền, đưa dân tới những vùng đất Chiêm Thành chưa khai thác, mở mang cày cấy vùng đất mới, sống hòa lẫn với người Chiêm, canh chừng và bảo vệ an ninh biên giới.

Chính sách dinh điền thâu nhận những người nghèo đói làm hương binh, để vừa làm ruộng vừa đánh giặc. Chính sách nầy còn được gọi là “ngụ binh ư nông”, lấy lính từ trong nông dân.  Chính sách dinh điền là dùng lính bảo vệ và phát triển đất đai, rồi lấy đất đai làm ra thực phẩm để nuôi lính.

ại sao  Chiêm Thành yếu đi và dần dần  sát nhập vào Đại Việt?

Vì văn hóa chiêm Thành có những nhược điểm ( theo sự khảo c ứu của  học giảTRẦN GIA PHỤNG):

 

-Về phía chính quyền

a/- chính quyền không chặt chẽ  mà chia rẽ

 1/ – vì sắc tộc:

Sắc tộc Chàm có nhiều thị tộc.  Hai thị tộc mạnh nhất là thị tộc Cây Cau (Kramukavamca) ở phía nam, vùng Panduranga (Phan Rang), và thị tộc Cây Dừa (Narikelavamca) ở phía bắc, vùng Indrapura (Quảng Nam). Các thị tộc độc lập với nhau .

– Các  Sắc tộc Churu, Jarai, Raglai… luôn luôn tự trị.  (Cho đến nay, chưa có chính quyền nào có thể đưa các sắc tộc trên cao nguyên nầy vào nề nếp hành chánh trung ương).

2/- xã hội giai cấp

-Giai cấp thượng tầng tăng lữ và quý tộc tuy ít nhưng  lại đè nén  giai cấp dưới

-giai cấp thường dân và tiện dân gồm đại đa số dân chúng bất mãn

b/   chính quyền không phổ biến văn hóa giáo dục và thi cử để tuyển lựa nhân tài , và  không chú trọng  lưu truyền văn chương, lịch sử.

c/-chính quyền hiếu chiến  thường đem quân đi chinh phạt khắp nơi

Chiến tranh làm cho  đất nước lụn bại, nghèo khổ.  Khi động binh, nam giới tòng quân ra trận,  thiếu người làm nông, đất đai bị bỏ hoang, không người cày cấy, chăm sóc ruộng vườn.

 

Về phía Xã hội

a/-   Người Chiêm chỉ thích sống theo bản làng thị tộc riêng của mình theo từng bộ tộc cách biệt.  Họ không muốn con em mình kết hôn với những người khác thị tộc, Họ không muốn bị cuốn hút theo văn hóa bên ngoài,.  Do đó, người Việt tiến đến đâu, người Chiêm co cụm rút lui đến đó.

b/-  Quan niệm chung của người Chiêm:

Một khi đất đai bị người nước ngoài (Việt) chiếm đóng,thần của người Chiêm không còn linh nghiệm, mà thần của những người mới đến (Việt) mạnh hơn, phù hộ cho những người mới đến chứ không phù hộ cho người Chiêm, nên người Chiêm không muốn đòi lại đất đai, vì đòi lại ở cũng không tốt. Họ bỏ đi vùng đất khác.  Thói quen nầy của người Chiêm khuyến khích người Việt tiến mãi vì không gặp cuộc kháng cự nào đáng kể của người Chiêm.

 

2- Văn hóa  Óc Eo gia nhập văn hóa  Việt (1620)

Năm 1620, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái của mình là Công chúa Ngọc Vạn cho Quốc vương Chân Lạp Chey Chettha II làm Hoàng hậu của Vương triều Chân LạpNgọc Vạn, người công nữ đức hạnh & xinh đẹp này, đã hai lần dẫn đường cho người Việt mở đất về phương nam. Lần thứ nhất sau cuộc hôn nhân năm 1620, đưa người Việt đến Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hoà) khai khẩn đất hoang, lập ra những làng người Việt đầu tiên trên vùng đất Nam Bộ. Lần thứ nhì trong cuộc tranh chấp nội bộ vương quyền Chân Lạp năm 1658, thời trị vì của Batom Reacha Pontana Reja (tức hoàng thân So, con Ngọc Vạn )

Từ  thế kỷ 17thế kỷ 18, Thủy Chân Lạp phần lãnh thổ xưa kia được coi là trung tâm của Phù Nam, dần dàtách khỏi Chân Lạp để trở thành một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, tức Nam Bộ  ngày nay.

 

Lý do vương triều Chân Lạp dễ dàng nhượng Thủy Chân Lạp:

a/   Vì nguyên thủy Thủy Chân Lạp không phải là đất của họ, mà là đất của nước Phù Nam (Funan) thủa xa xưa

b/  Lại vìThủy Chân Lạp là vùng hạ lưu sông Cửu Long  rất ít dân sinh sống, không có người đủ tài đức cai quản, nguồn lợi thu về không là bao; nên vua chúa Chân Lạp dễ dàng dùng đất nầy làm quà tạ lễ các chúa Nguyễn đã giúp họ lên ngôi, hoặc giúp họ chống lại Xiêm La.

c/ Lại vì tập quán sinh hoạt, canh tác của mỗi dân tộc ít nhiều có điểm khác nhau, như dân bản địa thích chọn ở nơi đất cao (giồng), trồng khoai sắn, làm ruộng chỉ cầu đủ ăn và ít muốn khai thác gì thêm; người Hoa thì thích buôn bán hơn.

d/–Quan niệm chung của người Chân Lạp giống như người Chiêm  rằng   một khi đất  bị người nước ngoài chiếm thì thần của mình không còn linh nghiệm, mà thần của những người mới đến mạnh hơn, không phù hộ cho mình, nên Họ bỏ đi vùng đất khác.    Xin dẫn chứngquần thể cung điện đền đài Angkor Wat, Angkor Thom của Chân Lạp bị người Chiêm Thành tàn phá vào năm 1177,   rồi bị người Thái tấn công năm 1369,.  Triều đình Chân Lạp liền dời đô đến Phnom Penh (Nam Vang) năm 1434.  Từ đó, Angkor chìm hẳn vào bóng tối, cho đến hạ bán thế kỷ 19, người Pháp mới phát hiện ra.  Chính vì vậy người Việt tiến mãi vì không gặp cuộc kháng cự nào đáng kể của người Chân Lạp

 

III- Kỷ cương Xã Hội của Văn hóa Việt

 Kỷ  cương Xã hội Việt   chịu ảnh hưởng các tôn giáo về mặt luân lý .

Đạo thờ Trời và tôn  kính  tổ tiên đề cao :

Trời thưởng  kẻ lành, phạt kẻ dữ

Hiếu thảo với cha mẹ và ông bà

Anh em chị em phải thương nhau

 

Đạo  Phật  đề cao

-Bát Chánh Đạo  để có  Chánh Tâm, Từ Bi hỉ xả

-Bát Chánh Đạo  gồm có:  Chánh Kiến   Chánh tư duy, Chánh nghiệp, Chánh  tin tấn, Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh niệm, và Chánh định.

 

Phật Giáo Hòa Hảo đề cao:

Bát Chánh Đạo  làm con đường tu  thân cho đạo Tổ Tiển để rồi

Đức Ngoc  Hoàng mở cửa Thiên Môn

Đặng ban thưởng Phật Tiên với Thánh

(Quyển 2 : nhan đề  Kệ dân người khùng)

 

Đạo Nho (Khổng) đề cao:

–   Dân Vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh

  Chính danh;  vua phải ra vua, thầy phải ra thầy, cha phải ra cha…

–  Thiên mệnh: số mệnh( sống theo  thiên lý) và sứ mệnh  ( phục vụ

xã  hội, đem cái tốt cho người dân

 

Đạo Lão  đề cao:

Sống vô vi : giữ tâm hồn thanh sạch, không làm mất lòng ai

– Tu tính, tu mệnh luyện cho mình hướng thượng, và thân xác khỏe mạnh

 

Kết luận

Hy vọng  rằng  sự mổ xẻ Văn Hóa Việt từ  bên ngoài  văn hóa, cho đến  từ bên trong văn hóa, giúp cho các độc giả  nhìn thấy rõ ràng  cái văn hóa Việt.

Văn hóa Việt  có nhiều điểm chung  với văn hóa nước ngoài, nhất là các nước láng diềng. Nhưng văn hóa Việt có những điểm riêng biệt.  Về những điểm riêng biệt , thì phải  công nhận rằng văn hóa Việt là một văn hóa đa đạng vì nó có 54 sắc dân, mỗi sắc dân có  dân tộc tính riêng .  Vì có nhiều dân tộc tính khác nhau,  thì thật là khó mà có được sự đoàn kết một lòng trong công cuộc kiến thiết đất nước. Người lãnh đạo quốc gia  phải sáng suốt  để vượt qua  cái trở ngại này.    Muốn cho đất nước  mạnh để chống kẻ thù, muốn cho đất nước  thịnh vượng phú cường, thì cần phải có sự đoàn kết một lòng,. Muốn được vậy,  cần phải có một nền giáo dục  nhân bản, dựa trên nền tảng luân lý tôn giáo chân chính, đồng thời một chính phủ nhiệt tâm mong lợi ích cho toàn dân.

 

 

 

 

 

Leave a Reply